[Dòng chảy Kinh tế]

Bộ KHĐT: Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong kỷ nguyên mới

VOV1 - Trước thềm năm mới 2025, PV Đài TNVN đã có cuộc phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng về những thành tựu lớn của kinh tế Việt Nam, cũng như thách thức của nền kinh tế đất nước trong kỷ nguyên mới.

Xuân Lan
Bộ KHĐT: Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong kỷ nguyên mới

LTS: Kinh tế thế giới năm 2024 tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức nhưng dần ổn định khi thương mại hàng hóa toàn cầu được cải thiện trở lại, áp lực lạm phát giảm dần, điều kiện tài chính tiếp tục được nới lỏng, nguồn cung lao động gia tăng. Trong nước tiếp tục đối mặt với những khó khăn của kinh tế thế giới và nội tại của nền kinh tế, thiên tai liên tiếp xảy ra. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành và địa phương nghiêm túc, quyết liệt thực hiện các giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 01 về phát triển kinh tế – xã hội; Nghị quyết 02 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia... Tuy vậy, tình hình kinh tế – xã hội năm 2024 của nước ta vẫn duy trì xu hướng tích cực, các ngành, lĩnh vực đạt được nhiều kết quả quan trọng đóng góp vào tăng trưởng của cả năm.

Năm 2024 ghi nhận nhiều kỷ lục quan trọng đối với hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa với tổng giá trị kim ngạch tiến sát mốc 800 tỷ USD, đạt mức kỷ lục 786,29 tỷ USD, cao hơn mức kỷ lục năm 2022. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 38,23 tỷ USD. Vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được khẳng định và nâng cao, ngày càng dành được sự ủng hộ, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế...Trước thềm năm mới 2025, dù kinh tế Việt Nam đạt những thành tựu đáng kể nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức đang chờ đón phía trước. PV Đài TNVN đã có cuộc phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng về những thành tựu lớn của kinh tế Việt Nam, cũng như thách thức của nền kinh tế đất nước trong kỷ nguyên mới:

Câu hỏi: Thưa Bộ trưởng, xin Bộ trưởng cho biết những đặc điểm mới, những điểm đột phá mới trong Báo cáo tổng hợp chiến lược 10 năm phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030 và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 mà Tổ biên tập kinh tế xã hội đang chủ trì?

Bộ trưởng trả lời: Báo cáo Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 là một văn kiện quan trọng của Đại hội XIV đang trong quá trình tiếp tục hoàn thiện sau khi được Hội nghị Trung ương 10 (khóa XIII) thông qua dự thảo các nội dung cơ bản, chuẩn bị các bước xin ý kiến đại hội đảng các cấp. Với tinh thần chủ đạo là đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc, Báo cáo lần này có nhiều nội dung định hướng mới, mang tính đột phá bao trùm trên các ngành, lĩnh vực, trong đó có các điểm trọng tâm, cốt lõi như sau:

Thứ nhất, phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở làm chủ công nghệ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đa dạng hóa thị trường, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế. Phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; lấy phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm. Thứ hai, quyết tâm, nỗ lực đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn tới và tiếp tục duy trì trong dài hạn. Yêu cầu này đặt ra từ mục tiêu tổng quát trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là đến năm 2045, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Mục tiêu này tuy nhiều khó khăn, thách thức nhưng như kinh nghiệm của một số nước phát triển cho thấy, để trở thành nước có thu nhập cao, các quốc gia này đều trải qua các giai đoạn dài trong lịch sử có mức tăng trưởng cao, có thể lên tới hai con số như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore... Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Hình thành năng lực sản xuất quốc gia trình độ cao, từng bước tự lực, tự cường về khoa học công nghệ để chủ động tham gia sâu, hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế nền tảng, kinh tế chia sẻ; tăng cường ứng dụng công nghệ số trong mọi ngành, lĩnh vực, tạo ra các mô hình kinh doanh mới. Nâng cao hiệu quả đầu tư, nhất là đầu tư công; tập trung nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực then chốt, các công trình, dự án trọng điểm, có sức lan tỏa, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có vốn nhà nước; đổi mới mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Phát triển kinh tế tư nhân thực sự trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức tín dụng; hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên. Thứ tư, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Giảm tỷ trọng chi thường xuyên, tăng chi đầu tư phát triển. Tháo gỡ vướng mắc cho thị trường vốn, thị trường tài chính, trái phiếu doanh nghiệp, thị trường bất động sản, đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP); quan tâm phát huy các nguồn lực nhàn rỗi trong xã hội. Có cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư bằng chính sách ưu đãi, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước thông qua các quỹ đầu tư và cung cấp kết cấu hạ tầng. Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án đầu tư đang tồn đọng, chậm triển khai để khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế. Áp dụng linh hoạt trần nợ công để tăng thêm nguồn lực phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng. Thứ năm, để đạt được mức tăng trưởng cao trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực dự báo còn nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi phải tập trung thực hiện  hiệu quả các đột phá chiến lược đã được xác định qua các kỳ Đại hội Đảng, trong đó hoàn thiện thể chế phát triển được coi là “đột phá của đột phá” của giai đoạn tới. Tiếp tục nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập quốc tế; vừa phục vụ yêu cầu quản lý, vừa thúc đẩy phát triển. Đẩy nhanh xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, trung tâm tài chính khu vực và quốc tế, khu thương mại tự do... Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền triệt để, phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa trung ương và địa phương.

Đẩy nhanh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện, hiệu quả, chất lượng giáo dục và đào tạo, trọng tâm là hiện đại hóa và thay đổi phương thức giáo dục, đào tạo. Đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế đáp ứng nhu cầu của thị trường, nhất là những ngành, lĩnh vực ưu tiên, mới nổi như trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, xây dựng, vận hành đường sắt cao tốc... Đổi mới, hoàn thiện chính sách, pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng tính đặc thù của lao động nghiên cứu khoa học và yêu cầu của thực tiễn; chấp nhận rủi ro và độ trễ trong hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đầu tư và sử dụng có hiệu quả các trung tâm nghiên cứu và phát triển, đào tạo lĩnh vực công nghiệp công nghệ số, công nghiệp điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo… Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thông minh. Triển khai đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, một số tuyến đường sắt kết nối với cảng biển cửa ngõ quốc tế, kết nối quốc tế với Trung Quốc, đường sắt kết nối cảng hàng không quốc tế. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao, bảo đảm an ninh năng lượng. Đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng số đi trước một bước để thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số.

Câu hỏi: Thưa Bộ trưởng, Bộ trưởng đánh giá như thế nào về kết quả thu hút đầu tư nước ngoài năm vừa qua? Chính sách và định hướng trong thời gian tới để nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư nước ngoài là gì?

Bộ trưởng trả lời: Trong năm 2024, tổng vốn ĐTNN đăng ký đạt 38,23 tỷ USD. Tuy nhiên, số lượt dự án cũng như số vốn tăng thêm, mở rộng đầu tư tăng mạnh với mức tăng 11,2% về số lượt dự án và 50,4% về vốn. Trong đó, nhiều dự án đã tăng vốn đầu tư trong các lĩnh vực ưu tiên thu hút như: Amkor (tăng hơn 1 tỷ USD trong dự án nhà máy sản xuất, lắp ráp và thử nghiệm vật liệu, thiết bị bán dẫn tại KCN Bắc Ninh), Casetek Singapore (tăng 299 triệu USD trong dự án công nghệ chính xác tại Nghệ An) và rất nhiều các dự án khác. Bên cạnh đó, cũng có một số dự án tăng vốn lớn trong các lĩnh vực khác nhau như Tập đoàn Phú Mỹ Hưng tăng gần 1 tỷ USD trong dự án khu đô thị sinh thái Hồng Hạc tại Bắc Ninh.

Bên cạnh điểm sáng về vốn tăng thêm thì vốn đầu tư thực hiện trong năm 2024 cũng là điểm sáng với tổng vốn thực hiện đạt 25,35 tỷ USD, tăng 9,4% so với cùng kỳ. Đây cũng là mức vốn giải ngân lớn nhất trong năm từ trước đến nay. Điều này cho thấy các nhà ĐTNN đặt niềm tin mạnh mẽ vào môi trường, chính sách đầu tư của Việt Nam nên đã mở rộng hoạt động đầu tư cũng như quy mô các dự án hiện hữu và tăng cường giải ngân. Trong bối cảnh nền kinh tế năm 2024 vẫn gặp nhiều khó khăn thì đây là tín hiệu tốt cho thấy khối doanh nghiệp FDI vẫn duy trì tốt hoạt động đầu tư, kinh doanh. Bên cạnh tăng trưởng về số lượng thì còn có sự cải thiện đáng kể về chất lượng các dự án đầu tư. Phần lớn các dự án tập trung trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 73,3%). Trong đó có nhiều dự án quy mô lớn, sử dụng công nghệ cao trong các lĩnh vực điện tử, sản xuất chất bán dẫn, công nghiệp phụ trợ, ứng dụng công nghệ tiên tiến. Đồng thời, thời gian qua các cơ quan của Việt Nam đã tiếp xúc, làm việc với nhiều Tập đoàn công nghệ hàng đầu như: Qualcomm, Google, Meta, Lam Research, Qorvo, AlChip và các công ty đã có kế hoạch cụ thể chuyển dịch chuỗi cung ứng sang Việt Nam.

Theo đánh giá mới nhất của nhiều tổ chức tài chính trong và ngoài nước, triển vọng thu hút vốn FDI của Việt Nam trong thời gian tới sẽ giữ nhịp độ tích cực nhờ 03 yếu tố chính, gồm: chiến lược đa dạng hoá chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất đa quốc gia; tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phục hồi tích cực; kinh tế vĩ mô ổn định. Vừa qua, Thỏa thuận hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Tập đoàn NVIDIA đã được ký kết nhằm hợp tác thành lập Trung tâm nghiên cứu và phát triển và Trung tâm dữ liệu AI tại Việt Nam. Thỏa thuận là “đòn bẩy” quan trọng giúp Việt Nam có được bước nhảy vọt về công nghệ trong thời gian tới, có hiệu ứng lan tỏa lớn, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư công nghệ cao khác trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực AI, bán dẫn đầu tư vào Việt Nam. Theo đó, NVIDIA cũng đã ký thỏa thuận với một số đối tác về việc dịch chuyển chuỗi sản xuất từ các nước khác sang Việt Nam, với cam kết đầu tư từ 4-4,5 tỷ USD trong vòng 4 năm tới. Do vậy, dự kiến dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng ổn định. Dự báo thu hút FDI trong ngắn hạn vẫn duy trì mức ổn định và tương đương năm 2023, vốn đăng ký đạt khoảng 39 – 40 tỷ USD (năm 2023 đạt 39,4 tỷ USD), vốn thực hiện đạt khoảng trên 23 – 24 tỷ USD (năm 2023 đạt 23,18 tỷ USD).

Câu hỏi: Thưa Bộ trưởng, xin Bộ trưởng chia sẻ quan điểm và mục tiêu thu hút dòng vốn FDI trong những năm tới đặt trong bối cảnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tăng trưởng xanh, với tâm thế Việt nam bước vào kỷ nguyên mới?

Bộ trưởng trả lời: Việt Nam đang ở thời điểm quan trọng, thời điểm để tăng tốc, bứt phá và về đích để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 đã đề ra. Đồng thời, chuẩn bị kế hoạch cho giai đoạn phát triển mới (2026-2030) với tâm thế sẵn sàng bước vào “Kỷ nguyên phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”. Theo đó, Việt Nam đã và đang tập trung thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Do đó, nằm trong xu hướng chung của thế giới, Việt Nam sẽ tập trung thu hút đầu tư trong các lĩnh vực chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tăng trưởng xanh. Đây cũng chính là các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư đã được nêu tại Nghị quyết số 50/NQ-TW  của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, Quyết định số 667/QĐ-TTg  của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030. Cụ thể: Thúc đẩy đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao và đổi mới sáng tạo: ưu tiên thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, chuỗi cung ứng thông minh, năng lượng sạch, và công nghệ xanh. Việt Nam sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp nước ngoài trong việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các lĩnh vực này. Hai là Phát triển kinh tế xanh và bền vững: Với cam kết đạt được mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam sẽ tiếp tục thúc đẩy các dự án đầu tư vào công nghiệp xanh, năng lượng sạch và phát triển đô thị bền vững. Ba là, Phát triển tài chính số và tài chính xanh: với sự phát triển của công nghệ tài chính (fintech) và nhu cầu chuyển đổi số, Việt Nam sẽ thúc đẩy các sáng kiến hợp tác trong lĩnh vực tài chính số và tài chính xanh. Thông qua đó, hợp tác để phát triển hệ sinh thái tài chính số và thúc đẩy các sáng kiến tài chính bền vững.

Câu hỏi: Thưa Bộ trưởng, năm 2025 là năm cuối cùng thực hiện Kế hoạch Đầu tư công trung hạn 2021 - 2025. Chính phủ đã đề ra kế hoạch vốn đầu tư công năm 2025 là 790.727 tỷ đồng, tăng đáng kể so với kế hoạch 670.000 tỷ đồng của năm 2024. Cơ sở nào để chúng ta có thể hoàn thành giải ngân lượng vốn thế này?

Bộ trưởng trả lời: Trong năm 2024 vừa qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo và giải pháp quyết liệt để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, đến nay đã cơ bản tháo gỡ được các nút thắt, đặc biệt là về thể chế thông qua việc trình Quốc hội ban hành nhiều văn bản pháp luật về lĩnh vực đầu tư công, ngân sách nhà nước, quản lý sử dụng đất, đấu thầu, quản lý về hợp tác công – tư... Đạt được kết quả này là nhờ sự lãnh đạo chính xác của Trung ương Đảng, các giải pháp quyết liệt từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự đồng hành của các cơ quan của Quốc hội. Trong năm 2025, để đầu tư công tiếp tục phát huy tốt vai trò là động lực tạo đột phá trong tăng trưởng kinh tế, cần tập trung vào một số định hướng và giải pháp chủ yếu sau: Thứ nhất, cần triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Năm 2025, Quốc hội đã Quyết nghị Kế hoạch đầu tư công với số vốn 790.727 tỷ đồng, cao hơn so với năm 2024 khoảng hơn 100 nghìn tỷ đồng. Vì vậy, cần triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, sớm đưa nguồn vốn vào nền kinh tế. Thứ hai, năm 2025 là năm bản lề chuẩn bị cho kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030, do đó, cần tập trung nâng cao chất lượng chuẩn bị đầu tư dự án, nhất là các dự án quan trọng, mang tính chiến lược, xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái của đất nước, như: dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, các dự án đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, các cảng biển trung chuyển quốc tế (Nam Đồ Sơn – Hải Phòng, Liên Chiểu – Đà Nẵng, Cần Giờ - Tp. Hồ Chí Minh, Trần Đề - Sóc Trăng)... Vì vậy, trên cơ sở nhiệm vụ được giao, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần chủ động, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư dự án, lường trước đầy đủ các vấn đề có thể phát sinh để làm tốt công tác chuẩn bị, tạo tiền để để khi triển khai thực hiện dự án được nhanh chóng, không phải điều chỉnh, bổ sung, đảm bảo hiệu quả đầu tư và sớm hoàn thành các công trình hạ tầng trọng điểm. Thứ ba, năm 2025 là năm “về đích” của các dự án hạ tầng trọng điểm giai đoạn 2021 – 2025 như dự án Cao tốc Bắc – Nam phía Đông, dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành... Vì vậy, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần chỉ đạo chủ đầu tư có phương án bảo đảm vật liệu xây dựng (đất, đá, cát…) đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu của các dự án, đặc biệt là các dự án giao thông quan trọng quốc gia, có tính liên vùng; Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực theo phân công hướng dẫn các bộ, địa phương về quy trình cấp phép mỏ, khai thác nguyên vật liệu đá, cát, đất, sỏi, cát biển cho dự án đầu tư công bảo đảm nhanh, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật. Thường xuyên theo dõi bám sát diễn biến thị trường vật liệu xây dựng, đặc biệt là vật liệu chủ yếu phục vụ dự án đầu tư công, đề xuất các giải pháp để bảo đảm cung cầu hàng hóa, giá cả vật liệu xây dựng. Thứ tư, cần tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, truyền thông, nhất là truyền thông chính sách, góp phần phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố niềm tin, giữ vững tâm lý doanh nghiệp, nhà đầu tư, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội cho đầu tư kết cấu hạ tầng xã hội. Thứ năm, trong bối cảnh phương thức sản xuất của nền kinh tế đang thay đổi, xu hướng chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dự án nói riêng, quản lý nhà nước nói chung là xu hướng tất yếu, do đó, cần nghiên cứu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý thực hiện các dự án đầu tư công. Sử dụng hệ thống dữ liệu tập trung để đảm bảo tính minh bạch, đẩy nhanh tiến độ, rút ngắn thời gian, tăng hiệu quả trong quản lý nguồn vốn đầu tư.

Câu hỏi: Bộ trưởng kỳ vọng gì về tiến độ giải ngân đầu tư công sau khi các Dự án Luật Đầu tư công (sửa đổi) và dự án 1 Luật sửa 4 luật (Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu) có hiệu lực từ năm 2025 này?

Bộ trưởng trả lời: Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật nói chung và đầu tư công nói riêng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá ngay từ đầu nhiệm kỳ 2021-2025. Theo đó, Luật Đầu tư công số 58/2024/QH15 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu đã được Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/1/2025. Với tinh thần đổi mới, mang tính “cách mạng” về quản lý đầu tư công, trong đó: Quy định đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; đáp ứng yêu cầu thực tiễn và bối cảnh phát triển mới, tạo sự chủ động, linh hoạt hơn cho các cấp, ngành, địa phương trong điều hành, quản lý đầu tư công. Quy định cụ thể, làm rõ các nội dung về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, từ đó khắc phục những khó khăn, vướng mắc, lúng túng trong thực hiện của các quy định trước đây. Thể chế hóa một số quan điểm, mục tiêu, định hướng của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ để góp phần phát huy hiệu quả của hoạt động đầu tư như: tăng cường công tác chuẩn bị đầu tư, phân cấp phân quyền việc điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài; Quy định cụ thể, tăng tính hấp dẫn của đầu tư theo phương thức đối tác công – tư; Tăng cường tính minh bạch, rút ngắn thời gian, quy trình trong tổ chức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. Với các Dự án Luật vừa được Quốc hội thông qua sẽ góp phần tích cực trong nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, giúp đẩy mạnh giải ngân đầu tư công năm 2025 và các năm tiếp theo.

Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng.

Bình luận (3)

  • Nguyễn Thành Đạt2 giờ trước

    Đây là định hướng đúng đắn cho đất nước. Chuyển đổi số sẽ tạo ra đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội.

  • Trần Thị Lan Anh3 giờ trước

    Mong rằng các chính sách sẽ được triển khai thực chất, không chỉ dừng ở khẩu hiệu.

  • Lê Hoàng Minh4 giờ trước

    Doanh nghiệp nhỏ và vừa như chúng tôi rất cần được hỗ trợ chuyển đổi số để cạnh tranh tốt hơn.

Bộ KHĐT: Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong kỷ nguyên mới | VOV1